Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

Phụ Nữ Việt Nam qua Chiếc Nón Lá



PHONG TỤC VỊÊT NAM NÓN LÁ



" Nón nầy che nắng che mưa, Nón nầy để đội cho vừa đôi ta” (Ca dao)



Nón lá không xa lạ với chúng ta, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của phụ nữ Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.



Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:



- Nón dấu: Nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
- Nón gò găng hay nón ngựa: Sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa.
- Nón rơm: Nón làm bằng cộng rơm ép cứng.
- Nón quai thao: người miền Bắc thường dùng trong lễ hội.
- Nón cời: Nón rách



- Nón gõ: Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa.- Nón lá sen: Cũng gọi là nón liên diệp.- Nón thúng: Thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.- Nón khua: Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa.- Nón chảo: Thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng.- Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang.- Nón bài thơ: Ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v…



Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm? Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón.



Với cây mác sắc, người làm nón chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm nức vành. Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.



Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làng quê sau các vụ mùa, ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón?



Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau nầy người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên Du Quy Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển, người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió. Một loại khác là Bồ Quy Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá.



Ngày nay dù đã phát triển nhưng trên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh.



Người ta chặt lá nón non còn búp, cành lá nón có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại.



Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón.



Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6 cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khác nhau lên khung. Cái khung nầy phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡ khi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng.



Nón thường chỉ 16 vành tròn làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, Nón bài thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây nầy giống cây sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi)



Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính thường 41 cm, người ta phết phiá ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong. Để có được một chiếc nón, phải trải qua 15 khâu, từlên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ…



Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt nam:

“Nón em chẳng đáng mấy đồng,Chàng mà giật lấy ra lòng chàng thamNón em nón bạc quai vàngThì em mới dám trao chàng cầm tayTiếc rằng vì nón quai mâyNên em chẳng dám trao tay chàng cầm” Nón quai thao, hay nón thúng các cô gái Bắc thời xưa chưa chồng thường dùng, ngày nay đến Hà Nội không còn thấy ai đội nón quai thao, trên đường phố cổ trầm mặc dưới bóng cây cổ thụ, thiếu nữ Hà Nội che dù màu, đội mũ lát, đội mũ tân thời, nhưng vào thăm Văn Miếu sẽ thấy trình diễn văn hoá, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa với chiếc nón quai thao.



Thuở xưa, con gái sau khi lập gia đình, bổn phận làm vợ, làm mẹ, họ chỉ chú trọng đến niềm vui tận tụy làm tròn bổn phận trong gia đình, xao lãng những vẻ đẹp bề ngoài. “Chưa chồng nón thúng, quai thaoChồng rồi, nón rách, quai nào thì quai…” Thân phận của những bóng hồng khi về chiều nhan sắc tàn phai: “Còn duyên nón cụ quai tơHết duyên nón lá quai dừa cũng xong”



Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp, rạo rực vì những bâng khuâng… Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng. Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn, đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá:

“Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nónChiều mùa thu mây che có nắng đâuNắng sẽ làm phai mái tóc xanh màuSẽ làm khô làn môi em dịu ướtCòn ta mắt anh…Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khướcNếu nghiêng nón có nghĩa là từ khướcThì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhauNửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đàoĐôi chân bước… anh nghe chừng sai nhịp.” Thu Nhất Phương



Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đò trên sông Hương… và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế:



Sông Hương lắm chuyến đò ngang Chờ anh em nhé, đừng sang một mình Ca dao



“Sao anh không về thăm quê emNgắm em chằm nón buổi đầu tiênBàn tay xây lá, tay xuyên nónMười sáu vành, mười sáu trăng lên”Nguyễn Khoa Điềm “Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bayNón bài thơ e lệ nép trong tay” Bích Lan

Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ. Lựa nón, lựa quai, cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề:

“Dòng nước sông Hương chảy lặng lờNgàn thông núi Ngự đứng như mơGió cầu vương áo nàng tôn nữQuai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”

Nón bài thơ hiện hữu trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ nữ Huế, dùng nón lá nâng hay đựng xoài, cũng tạo nên nét đẹp mỹ miều.



“Anh về Bình Định ba ngày

Dặn mua chiếc nón lá dày không mua



Nón bài thơ đặc sản Huế, nón Gò Găng ở Bình Định còn gọi là nón ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp lá kè non, chằm bằng những đường chỉ tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long-lân-qui-phụng.Quai nón được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản rộng và đều người ta chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm, rẻ hơn nhiều.Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:

“Cưới nàng đôi nón Gò GăngXấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn”



Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai - một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.



Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành - An Nhơn. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3-4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25-30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50,000 chiếc nón. Gần đây nón Gò Găng còn được xuất cảng sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam:

“Nhớ nón Gò GăngVầng trăng đập đáSông dài sóng cảNgười quân tử,Khăn điều vắt vai…” Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay…



Chằm nón

Nguyễn Quý Đại

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

HAPPY VALENTINE'S DAY các bạn



Ngày 14 tháng 2, Giáo hội mừng lễ Thánh Valentinô. Trong khi đó xã hội lại mừng Ngày Tình Yêu.

Ngày lễ Thánh Valentinô được mừng như Ngày Tình Yêu đã trở nên nhộn nhịp vào khoảng đầu thế kỷ XVI. Những người yêu nhau viết cho nhau những bức thư tình, gửi tặng cho nhau những đoá hoa hồng.



Khởi sự là Ngày Tình Nhân rồi trở thành Ngày Tình Yêu, ngày lễ Thánh Valentinô trở thành lễ của các mối tình khác nhau. Năm 1981, các cặp vợ chồng tại Baton Rouge, Louisiana đề nghị thống đốc tiểu bang và Giám mục công bố lễ Thánh Valentinô là “Ngày Hôn Nhân”. Năm 1983, cả nước Hoa Kỳ và một vài nước khác đã mừng “Ngày Hôn Nhân Thế Giới”. Ngày này đã được cử hành vào ngày Chúa nhật thứ hai của tháng hai hàng năm. Tại Việt nam, lễ này mới xuất hiện trong vòng 10 năm qua. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ban phép lành Toà thánh cho những ai tham dự nghi lễ mừng Ngày Hôn Nhân Thế Giới này.



Nhân Ngày Tình Yêu, chúng ta cầu chúc cho các đôi hôn phối sống thuỷ chung, hạnh phúc, trung tín giao ước tình yêu suốt đời.

Tình yêu và hạnh phúc song hành cùng nhau. Có tình yêu mới có hạnh phúc. Càng hạnh phúc tình yêu càng dạt dào.

Có bài thơ “Về Năm Chiếc Lá” của Dạ Thảo Phương nói về tình yêu và hạnh phúc.

Hạnh phúc là một chiếc lá
Âm thầm nảy lộc đêm đông.
Buồn đau là một chiếc lá
Rụng trong nhựa úa mai hồng.
Nhớ mong là một chiếc lá
Run vô cớ giữa lặng không.
Hờn ghen là một chiếc lá
Lay lắt mãi giữa cành không.
Tình yêu chỉ năm chiếc lá
Mà làm thành một cơn giông.


Bài thơ về năm chiếc lá là khúc hát về tình yêu của muôn người, muôn đời. Hạnh phúc, buồn đau, nhớ mong, hờn ghen, cô đơn, mỗi trạng thái tình yêu ấy ứng với một chiếc lá đời. Tình yêu muôn thưở vẫn là thứ tình cảm kỳ lạ và khó hiểu. Khi ngọt ngào hạnh phúc, khi hờn ghen giận dỗi cách vô cớ, lúc lại tin ỵêu mãnh liệt. Có người đã cho tình yêu là một loại thực phẩm với đủ năm mùi vị: ngọt, đắng, chát, chua, cay.

Nảy mầm từ tình yêu chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là mong ước ngàn đời của con người. Ai cũng muốn được hạnh phúc. Ai cũng đi tìm và xây đắp hạnh phúc.

Hạnh phúc là một chiếc lá, âm thầm nảy lộc đêm đông. Cũng như chiếc lá lặng lẽ vươn mình giữa đêm đông, hạnh phúc con người chỉ có được khi biết dày công chăm nom gìn giữ, biết vượt qua khó khăn thử thách. Hạnh phúc là quà tặng, là hồng ân, con người phải biết trân trọng, nâng niu giữ gìn những gì mình đang có. Bởi lẽ, biết đâu rằng giông bão cuộc đời nổi lên cuốn theo chiếc lá hạnh phúc mong manh.

Buồn đau, nhớ mong, hờn ghen, cô đơn là mỗi chiếc lá cảm xúc của tình yêu. Chiếc âm thầm trong hạnh phúc. Chiếc rụng úa bởi buồn đau. Chiếc run lên vì mong nhớ. Chiếc hờn ghen khi vở tắt. Chiếc cô đơn giữa lặng không.

Tình yêu là năm chiếc lá mà làm thành một cơn giông. Năm chiếc lá hạnh phúc, buồn đau, mong nhớ, hờn ghen, cô đơn là năm khía cạnh của tình yêu đôi lứa. Năm chiếc lá ấy dẫu mong manh, bé nhỏ nhưng lại tiềm tàng một sức mạnh lớn lao là làm thành một cơn giông. Cơn giông của tình yêu đầy sức mạnh. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Tình yêu là nguồn sống cho đời. Ai đã một lần yêu mới thấu hiểu tình yêu. Người mình yêu là lẽ sống trên đời.

Tình yêu rất huyền nhiệm Tình yêu kỳ diệu nó gõ hồn ta vào những giờ không định như Xuân Diệu viết:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu,
có nghĩa gì đâu một buổi chiều,
nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.
Chỉ một lần chạm tay nhau thôi, về nhà đã mang bệnh tương tư:
Hôm qua lỡ chạm tay nhau,
về nhà đó có bị đau không nào,
riêng đây chẳng biết vì sao,
chạm tay lần ấy đau vào đến tim.
Đau vào đến tim chính là khởi đầu cho những xao xuyến rung động của tình yêu.


Khi yêu rồi thì sức mạnh của tình yêu giúp con người vượt qua tất cả mọi thử thách, mọi khó khăn để có nhau:
Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.
Yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.
Yêu nhau bất kể giàu nghèo, dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.
Yêu nhau mọi sự trở nên ngon ngọt:
Thiếp xa chàng ăn vàng cũng đắng,
thiếp gần chàng ăn muối trắng cũng ngon.
Bài thơ “Lạ chưa” đã diễn tả sự kỳ diệu ấy của tình yêu:
Lạ chưa vẫn ở bên em,
mà anh cứ nhớ cứ thèm gần hơn.
Cứ lo em giận em hờn,
mải mê anh để cô đơn em buồn.
Cớ chi chắp được đôi hồn,
như chim đôi cánh lượn hôn mây trời.
Cớ chi đi suốt đường đời,
như hình với bóng sóng đôi tháng ngày.
Em cười anh cũng vui lây,
em đau anh lại lệ cay xót thầm.
Qua bao xao động thăng trầm,
tâm ca được mấy tri ân không lời.
Tình yêu là thế em ơi,
hai người mà hoá một người trăm năm.

Tình yêu thật đẹp và thật kỳ diệu. Vì thế, quyết định sống chung với một người suốt đời là điều hết sức quan trọng. Quyết định mà không hiểu biết đó là liều lĩnh và mù quáng sẽ dẫn tới bất hạnh. Sự hiểu biết về mình và đối tượng mình chọn lựa luôn cần thời gian dài khá dài tìm hiểu,thử thách, đo lường.

Thời gian chính là thước đo tình yêu. Chân thật hay giả dối, thuỷ chung hay hời hợt chóng qua, thời gian sẽ xác định cho một tình yêu. Bởi vậy ông bà chúng ta khôn ngoan khuyên dạy con cháu, cần phải có thời gian dài để tìm hiểu kỹ lưỡng rồi mới tiến tới hôn nhân.

Ngày nay, người ta yêu nhau vội vàng, cưới nhau vội vã và bỏ nhau cũng mau chóng. Vì chưa hiểu nhau và chưa có đủ thời gian để tình yêu nên sâu đậm. Tựa như tình yêu hờ hững mà Mỹ Tâm hát trong bài ca “Hát với dòng sông”: tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề hối tiếc. Yêu nhau mà không mong đợi, không hối tiếc thì đâu phải là yêu thật tình.

Các đôi vợ chồng cũng cần có thời gian dành cho nhau. Cảm thông, chia sẽ những khó khăn vui buồn của nhau trong cuộc sống. Khi người vợ quá lo lắng về con cái. Bận rộn cơm áo gạo tiền. Họ tự bó chặt trong những thứ vụn vặt ấy. Khi người chồng bị cuốn hút trong công việc và bè bạn. Họ không còn dành thời gian cho vợ con. Đó là những nguy hiểm cho rạn nứt và bất hoà gia đình. Cần lắm thời gian vợ chồng dành cho nhau, cho gia đình mình.

Sách Sáng Thế định nghĩa: Thiên Chúa là Alpha và Omêga,là khởi nguyên và cùng tận. Điều ấy có thể diễn tả cách khác: Thiên Chúa là thời gian.

Thánh Gioan xác định: Thiên Chúa là tình yêu.

Thiên Chúa là thời gian và là tình yêu. Như thế tình yêu và thời gian song hành là một. Sống trong Thiên Chúa là sống để yêu và sống trong thời gian là yêu để sống. Kẻ sống trong Thiên Chúa là người biết quý chuộng thời gian.

Con người không làm chủ được thời gian. Quá khứ đã qua rồi. Tương lai chưa tới. Chỉ còn hiện tại. Hiện tại là thời gian quý nhất mà con người có trong tay. Sự giàu có của chúng ta là giây phút hiện tại. Trong Phúc âm, Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta hãy sống giây phút hiện tại. Kinh Lạy Cha,Chúa dạy: Xin Cha cho chúng con hôm nay và nhắc nhở rằng, ngày nào cũng có sự lao nhọc, cũng có niềm vui của ngày đó.

Sống giây phút hiện tại bằng yêu thương chính là hạnh phúc.
Cầu chúc cho những người đang yêu, những đôi vợ chồng đã yêu luôn sống hạnh phúc. Cho dẫu tình yêu như năm chiếc lá buồn đau nhớ mong hờn ghen cô đơn thì hạnh phúc vẫn luôn là chiếc trên cành mãi màu xanh. Xanh hy vọng. Xanh niềm vui và sự sống.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Sưu tầm bởi Thúy Hằng ( Hằng Bà Ngọai )


Mời các bạn xem một màn trình diễn bằng tay tuyệt vời:

http://www.youtube.com/embed/ryFQFzN6AMk?hd=1

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Hội Ngộ cùng bạn Nguyễn Đình Đông từ San Jose, Ca

Tối qua, 8/02/2012 Nhóm bạn thân đã hội ngộ với Nguyễn Đình Đông tại quán Cafe Một thưở Đông vừa bất ngờ về từ San Jose vè được tin Mẹ đau nặng. Nhưng nghe Đông về nay đã khỏe trở lại. Thật là vui mừng vì lần về này cũng trùng vào dịp Sinh Nhật Đông. Chúc mừng Sinh nhật Đình Đông. Chúc Đông một tuổi mới với nhiều niềm vui về sức khỏe cũng như kết quả và sự thành đạt của con cái Đây là lần tái ngộ với Đông lần thứ 2 kể từ 35 năm trước Mời các bạn xem hình nhé Thân ái, MD








Chủ nhật vừa qua, Đình Đông đã ghé thăm gia đình MD ở tư gia MD. Cùng đi với Đông còn có anh Tịnh . Gia đình MD và các em đã hân hạnh tiếp đón Đình Đông, người bạn thật xa xưa và ở cũng một nơi xa lăng lắc vửa trở lại quê nhà. Buổi tiệc đầu năm thật là ấm nồng tình bạn cũ thâm giao. Xin mời các bạn xem hình nha. MD




Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

BDD HCHS NTT-PDP hợp mặt Xuân cùng HCHS Cao Thắng

Nhân dịp tết Nhâm Thìn, HCHS CAO THẮNG đã tổ chức tiệc Tri Ân Thầy Cô vào ngày mùng 7 Tết. Tham dự buổi lể này còn có BDD HCHS NTT-PDP gốm : Nguyễn Hữu Phúc, Tạ Văn Vàng, Nguyễn Thanh Quan, Phạm Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Hường, Nguyễn Thị Nở - Nguyễn Thi Thu Hương, Phạm Mỹ Dung. Riêng MD có mời 1 cô bạn LVD là Chị Nguyễn Thị Thanh Kiều, vừa ở USA về VN ăn Tết quê hương. Chị Kiều mặc áo đầm da beo ngồi cạnh MD và có hình riêng lên hát bài Thoi Tơ. MD cũng hát giúp vui bài hát Đón xuân và Minh Nguyệt hát bài Ly rượu mừng. Mời Thầy Cô và các bạn cùng xem hình. Nhân dịp đầu năm, MD xin kính chúc Tất cả Quý Thầy Cô, Quý Bạn cùng gia quyến một năm con Rồng An lành và hạnh phúc . MD xin gửi đến Thầy Cô và các bạn ít hình ảnh về buổi tiệc này..
Mùng 6 Tết Nhâm Thìn, vợ chồng Thanh Loan mời tất cả các bạn cùng lớp đến nhà để mừng xuân mới.
Thanh Loan cũng là nhà Thiết kế Áo dài Việt Hoàng Bên mâm cổ Tết, chúng tôi đã nhắc đến các bạn ở xa như Đức Trí , Ngô Xinh , Trần Ái , Santi Hậu , Đúc Hạnh , Kim Chi. Mong rằng sẽ được gặp lại các bạn trong thời gian thật ngắn.
Rời nhà Thanh Loan, chúng tôi ghé thăm Thu Thủy, vì mẹ Thủy đang bệnh nặng.
Nhân dịp xuân về, lớp 12C_76 năm xưa xin gửi đến toàn thể Thầy Cô và các bạn xưa lời chúc tốt đẹp nhất. Mong rằng năm mới sẽ đem đến cho tất cả gia đình NTT-PDP nhiều niềm vui và hạnh phúc. Kính chúc một năm mới mạnh khỏe , an khang, tài lộc may mắn và vạn sự như ý.

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Bạn Vàng Hải Ngọai Hợp Mặt Đầu Năm





Thân Tặng các bạn Video 3 chàng " Ngự Lâm Pháo Thủ"tung hòanh tại Las Vegas nhân ngày hợp mặt1st REUNION TẠI CALIFORNIA


January 1, 2012

Hình ảnh Hợp Mặt bạn bè tại Hoa Kỳ:Khiết, Ngọc Bích, Thúy Hằng, Kim Chi, Thúy Phượng, Quyền và Hải...cùng đại gia đình..


Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Video clip về ngày họp Truyền Thống THKT NTT-PDP 20-11-2011


Kinh goi :Thay Co va Cac ban cuu hoc sinh NTT&PDP

Tối chủ nhật 20 thang 11 , 2011 vừa qua cuộc Hop mặt truyền thống cựu h/s Nguyễn Trường Tộ & Phan Đình Phùng lần thứ 10 đã thành công tốt đẹp ngoài mong đợi với hơn 160 Thầy Cô và cựu học sinh các thế hệ về dự. Đặc biệt buổi họp mặt vinh dự được đón tiếp Thầy cựu Hiệu Trưởng Huỳnh Ái Tông từ Mỹ về chung vui . Buổi họp mặt hết sức cảm động sôi nổi và nghĩa tình . Xin vui lòng vào đường link sau để xem video clip sôi nổi với " Nối vòng tay lớn"

http://www.youtube.com/watch?v=utlysbHFMDw

Thay mặt Ban Tổ Chức , chúng tôi xin chân thành cám ơn Các mạnh thường quân , các Thầy Cô và các bạn ở hải ngoại cũng như đang ở trong nước đã tích cực đóng góp vật chất lẫn tinh thần và tham dự đông đủ tạo nên sự thành công mỹ mãn cho buổi họp mặt truyền thống của cựu học sinh Trường chúng ta .
Chúng ta cùng cố gắng để ngọn lửa truyền thống này sẽ tiếp tục được duy trì và phát huy tiếp nối mãi mãi với các thế hệ cựu học sinh

Trân trọng
NGUYEN VĂN TỊNH - NGUYỄN HỮU PHÚC


Visitor Map